Thôn, tổ dân phố có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền tải các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với từng người dân. Để hoạt động của hệ thống cơ sở ngày càng hiệu quả, minh bạch và phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân, các quy định pháp luật hiện hành (Thông tư của Bộ Nội vụ và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở) đã nêu rõ các nội dung cốt lõi sau:
I. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THÔN VÀ TỔ DÂN PHỐ
- Không phải là một cấp hành chính: Thôn (đối với vùng nông thôn) và Tổ dân phố (đối với vùng đô thị) là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có cùng dòng máu, nơi cư trú hoặc các mối quan hệ đời sống khác.
- Nơi thực hiện dân chủ trực tiếp: Đây là địa bàn cơ sở để nhân dân phát huy quyền dân chủ trực tiếp, thực hiện các hình thức "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".
- Cầu nối với chính quyền: Thôn, tổ dân phố là nơi gắn kết cộng đồng, giữ gìn an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, xây dựng đời sống văn hóa và phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân lên UBND cấp xã.
II. QUY ĐỊNH VỀ SÁP NHẬP VÀ QUY MÔ SỐ HỘ DÂN
Để tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả quản lý, việc thành lập, sáp nhập thôn, tổ dân phố phải đảm bảo các tiêu chí cứng về quy mô số hộ gia đình theo quy định của từng địa phương, cụ thể:
- Thôn ở vùng đồng bằng: Thường phải có từ 300 hộ gia đình trở lên.
- Tổ dân phố ở vùng đồng bằng: Thường phải có từ 350 hộ gia đình trở lên.
- Đối với các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo, quy mô số hộ sẽ được điều chỉnh thấp hơn tùy thuộc vào địa hình và đặc thù địa phương nhưng phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình thông qua Hội đồng nhân dân tỉnh.
III. HOẠT ĐỘNG TỰ QUẢN VÀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
Hoạt động của thôn, tổ dân phố được thực hiện thông qua Hội nghị của thôn, tổ dân phố. Người dân được trực tiếp bàn, thảo luận và quyết định các nội dung sau:
- Biểu quyết các công việc chung: Bàn và quyết định mức đóng góp các loại quỹ, kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi nội bộ thôn, tổ dân phố.
- Xây dựng Hương ước, Quy ước: Thảo luận, thống nhất các quy tắc ứng xử, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật tự, phòng chống tệ nạn xã hội để lập thành Hương ước, Quy ước của thôn và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Giám sát hoạt động: Người dân có quyền giám sát việc sử dụng các nguồn quỹ do nhân dân đóng góp, quỹ từ thiện tài trợ và giám sát việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội tại cơ sở.
IV. CHỨC DANH TRƯỞNG THÔN, TỔ TRƯỞNG DÂN PHỐ
Trưởng thôn, Tổ trưởng dân phố là người đại diện cho nhân dân trong thôn, tổ dân phố để thực hiện các nhiệm vụ tự quản và do chính nhân dân tín nhiệm bầu ra:
- Hình thức bầu chọn: Được bầu trực tiếp bằng hình thức bỏ phiếu kín hoặc biểu quyết giơ tay tại Hội nghị thôn, tổ dân phố.
- Tiêu chuẩn nhân sự: Phải là người có hộ khẩu thường trú và cư trú thường xuyên tại thôn, tổ dân phố; có sức khỏe, nhiệt tình, có phẩm chất đạo đức tốt, được nhân dân tín nhiệm và nắm vững các chủ trương, đường lối.
- Nhiệm kỳ: Nhiệm kỳ của Trưởng thôn, Tổ trưởng dân phố là 05 năm (hoặc 2,5 năm tùy theo quyết định cụ thể của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để phù hợp với nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ cơ sở).
V. TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG
UBND xã đề nghị toàn thể nhân dân trên địa bàn nâng cao tinh thần trách nhiệm cá nhân, chủ động thực hiện các nội dung sau:
- Tham gia đầy đủ các cuộc họp: Chủ động tham gia các buổi họp thôn, tổ dân phố để đóng góp ý kiến xây dựng quê hương, không phó mặc công việc chung cho ban điều hành.
- Chấp hành nghiêm chỉnh quy ước: Tự giác thực hiện tốt các điều khoản trong Hương ước, Quy ước đã được cộng đồng thống nhất ban hành.
- Đóng góp đầy đủ nghĩa vụ: Thực hiện đầy đủ, đúng hạn các khoản đóng góp tự nguyện đã được hội nghị thôn thống nhất thông qua nhằm chung tay xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.
Ủy ban nhân dân xã thông báo để toàn thể nhân dân được biết, cùng chung tay xây dựng các thôn, tổ dân phố trên địa bàn xã ngày càng đoàn kết, an toàn và phát triển bền vững./.